Friday, 28/02/2020 - 07:44|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc

BÁO CÁO Sơ kết 01 năm nhân rộng mô hình VNEN

Thực hiện công văn số 139/PGD&ĐT- CM ngày 12/5/2015 của Phòng Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai về việc sơ kết 1 năm thực hiện nhân rộng mô hình VNEN, trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc báo cáo việc thực hiện nhân rộng dạy học theo mô hình VNEN như sau:

PHÒNG GD&ĐT-TP LÀO CAI                                                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TH  NGUYỄN BÁ NGỌC                                                                               Độc lập  - Tự do  - Hạnh phúc
 

Số :   /BC -TH

                                                                                                                                                                                     Duyên Hải, ngày 18 tháng 5 năm 2015

 
BÁO CÁO
Sơ kết 01 năm nhân rộng mô hình VNEN
 
           Thực hiện công văn số 139/PGD&ĐT- CM ngày 12/5/2015 của Phòng Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai về việc sơ kết 1 năm thực hiện nhân rộng mô hình VNEN, trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc báo cáo việc thực hiện nhân rộng dạy học theo mô hình VNEN như sau:
          1. Thuận lợi
          - Nhà trường được Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục quan tâm, chỉ đạo sát sao trong việc nhân rộng VNEN.                      
- Đội ngũ nhiệt tình, tâm huyết.
- CBQL chỉ đạo quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đều là nòng cốt CM, sát sao với CM, đề cao chất lượng đội ngũ, tích cực học hỏi và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên.
- Phụ huynh do tuyên truyền tốt nên đồng tình và ủng hộ nhà trường trong việc thực hiện nhân rộng VNEN.
- Khối trường trong dự án nhân rộng VNEN nhiệt tình giúp đỡ về phương pháp và tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc học tập kinh nghiệm.
- Nhà trường làm tốt việc kiểm soát chất lượng do đó chất đại trà ổn định, bền vững.
2. Khó khăn
+ CBQL, GV chưa được tập huấn bài bản về mô hình VNEN.
          + Đội ngũ (có người tuổi cao, có giáo viên hạn chế về chuyên môn, ngại khó, ngại khổ, ngại tiếp cận cái mới...)
          + Không được cấp phát tài liệu Hướng Dẫn học tập theo VNEN.
+ Bước đầu nhân rộng mô hình nên nhà trường chưa có kinh nghiệm, giáo viên còn lúng túng về phương pháp, học sinh còn lúng túng về cách học.
+ Khối lớp 2 HS còn nhỏ nên kỹ năng giao tiếp, chia sẻ, điều hành nhóm chưa tốt và  phòng học chật, có nhiều HS khó khăn, mồ côi.,..
+ Cha mẹ HS chưa tâm, chưa tin tưởng về hiệu quả của việc dạy học theo VNEN.
          3. Các giải pháp đã thực hiện
          3.1 Nâng cao nhận thức cho cho cán bộ, giáo viên, phụ huynh, học sinh
          Trong các buổi họp hội đồng, họp phụ huynh đầu năm nhà trường tuyên truyền đến đội ngũ phụ huynh học sinh về những ưu việt của mô hình trường học VNEN từ đó giúp đội ngũ, phụ huynh hiểu đúng về mô hình trường VNEN và tự nguyện đăng ký nhân rộng dạy và học theo mô hình VNEN.
          3.2 Chỉ đạo thực hiện nhân rộng các nội dung
          - Trang trí lớp học: góc học tập, hộp thư, sơ đồ cộng đồng, theo dõi chuyên cần, nội qui lớp học, trưng bày sản phẩm,...
          - Tổ chức lớp học theo VNEN và rèn luyện các kỹ năng hoạt động của HĐTQ. Áp dụng hội đồng tự quản trong giáo viên và hội cha mẹ học sinh.
          - Mua tài liệu, dạy và học theo VNEN.
          - Tổ chức tốt các hoạt động NGLL, thực hiện mô hình trường học "Khát vọng và lòng nhân ái", huy động cộng đồng cùng tham gia trong giáo dục.
          3.3 Chỉ đạo và thực hiện Quản lý và dạy học theo VNEN.
          - Triển khai kịp thời những văn bản chỉ đạo của cấp trên về phương pháp tổ chức dạy học theo VNEN, đánh giá học sinh theo thông tư 30/TT-BGD&ĐT.
          - Thành lập HĐTQ của GV, Cha  mẹ HS nhà trường, giao ban HĐTQ GV, HS vào thứ 6 hàng tuần,...
          - Dạy và học theo VNEN từ khối 2 đến khối 5. Riêng lớp Một áp dụng linh hoạt (logo, hoạt động nhóm, thảo luận chia sẻ...) . Tuy nhiên yêu cầu giáo viên lớp 1 phải dạy học sinh đọc thông, viết thạo, tăng cường thời gian đọc, viết.
          - Nhà trường tổ chức dự giờ thăm lớp và thảo luận thống nhất phương pháp dạy học, rút kinh nghiệm cho việc tổ chức dạy học/từng môn học. Đầu tư dự giờ nhiều hơn ở khối lớp 2, 3, 4, 5 để tư vấn giúp đỡ giáo viên. Đồng thời kịp thời chỉ đạo và tìm giải pháp khắc phục những tồn tại, vướng mắc cho giáo viên.
          - Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất việc chia tiết, nghiên cứu, điều chỉnh tài liệu phù hợp với đối tượng học sinh, thiết kế phiếu học tập, sử dụng thiết bị, đồ dùng trực quan, khai thác tranh ảnh,.... để tạo thuận lợi, gây hứng thú, kích thích tư duy học sinh tự hoạt động để lĩnh hội kiến thức.
          - Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các buổi tập huấn về tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) của Sở, Phòng, trường.
          - Liên hệ, tổ chức cho 100% giáo viên và 60 học sinh học tập kinh nghiệm tại trường đã triển khai và thực hiện mô hình VNEN (Hoàng Văn Thụ, Lê Ngọc Hân, Kim Đồng) đồng thời nhờ nhiều cốt cán 3 trường và phòng GD đến dự giờ và dự hội giảng nhằm trao đổi, giúp đỡ, tư vấn về phương pháp cho GV tại các lớp.
          - Tổ chức các chuyên đề, các buổi tập huấn hướng hoạt động vào các vấn đề mới, các vấn đề giáo viên còng vướng mắc khi dạy học theo VNEN.
           Tập huấn VNEN: Quản lí chương trình Tiểu học bằng sơ đồ tư duy; Nghiên cứu cách đánh giá HS theo thông tư 30/TT- BGD; Tập huấn cách điều chỉnh tài liệu tự học, thiết kế Tài liệu GD các HĐGD, cách ghi nhật ký giảng dạy theo mô hình VNEN;
          + Chuyên đề: Chủ động tổ chức 8 CĐ cấp trường như: Dạy Toán, TV lớp 5 theo Mô hình VNEN; Điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học; Nâng cao chất lượng  dạy Lịch sử, Địa lý trong trường Tiểu học; Áp dụng VNEN trong dạy Toán và Tiếng Việt Lớp 1; Áp dụng VNEN vào dạy học buổi 2; Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học theo VNEN; Dạy học theo đối tượng; kiểm soát chất lượng.
          - Chỉ đạo và thực hiệnđổi mới công tác hội giảng với nội dung: thi giáo viên dạy giỏi theo mô hình trường học VNEN (chủ yếu là dự giờ, kiểm tra đột xuất, tập trung vào học sinh, kiểm ra kết quả học tập của học sinh, kỹ năng điều hành chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, tư thế, tác phong của học sinh...)              
           - Chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên bằng cách thường xuyên dự giờ, cử cốt cán dự giờ, tư vấn giúp đỡ về phương pháp cho giáo viên và tập trung vào người đứng đầu (Quản lý, tổ trưởng chuyên môn phải tiên phong đi đầu, là nòng cốt chuyên môn và phải hiểu bản chất của các vấn đề sau đó mới triển khai được cho các thành viên trong nhà trường).
          - Tổ chức các tiết học ngoài thiên nhiên, các tiết học "2 trong 1, 3 trong 1t" để các em có cơ hội trải nghiệm thực tế và hòa mình vào môi trường thiên nhiên, giúp các em liên hệ bài học vào thực tế cuộc sống và làm cho kiến thức khoa học gần gũi hơn với đời sống của các em, từ đó học sinh thực hiện tốt hoạt động ứng dụng và có những đề xuất hữu ích sau mỗi giờ học.
        - Thực hiện Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn toàn trường tập trung vào thiết kế giờ học, dự giờ, nghiên cứu trao đổi, tư vấn về giờ dạy và tập trung vào các nội dung cơ bản: Phương pháp tổ chức lớp học theo tài liệu hướng dẫn học Mô hình VNEN; Cách thức bài trí, xây dựng và khai thác các góc công cụ học tập trong lớp học; Cách điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học, phát triển tài liệu, lô gô chỉ dẫn; Vai trò của giáo viên trong tổ chức các hoạt động học tập; Hoạt hội đồng tự quản, của nhóm trưởng và các thành viên trong nhóm học tập;  Kiểm soát chất lượng, dạy học theo đối tượng; Tư vấn cách đánh giá học sinh theo thông tư 30/2014.            
          - Cuối học kỳ 1 và cuối năm học, nhà trường tổ chức sinh hoạt chuyên môn để sơ kết, đánh giá những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, khi thực hiện dạy học theo VNEN và đánh giá học sinh theo thông tư 30, đồng thời đã có một số giải pháp khắc phục vào ngày 01/11/2014.
          3.4 Chỉ đạo và thực hiện mô hình trường "Khát vọng và lòng nhân ái", huy động cộng đồng cùng tham gia giáo dục
          - Thực hiện mô hình trường học "Khát vọng và lòng nhân ái" và tổ chức đa dạng các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, học sinh được tham gia các hoạt động để thể hiện khả năng, sự sáng tạo của mình: chương trình "Ngày hội học sinh Tiểu học" với các hoạt động Chúng em yêu nghệ thuật, triển lãm tranh ảnh; Tổ chức cuộc thi Nét đẹp Đội viên vào ngày 26/3; Tổ chức " Ngày hội sách"; Tổ chức chương trình giao lưu cùng Trường Trung Chải Sa Pa với các nghĩa cử cao đẹp như "chăn ấm tặng bạn", "Áo ấm tặng bạn", quyên góp đồ dùng, sách vở tặng học sinh vùng cao. Học sinh còn được tham gia chương trình "Về bản chung tay xây dựng nông thôn mới" ở xã Tả Phời như vệ sinh đường làng ngõ xóm, trang trí nhà, trang trí góc học tập, tặng quà cho gia đình học sinh nghèo. Bên cạnh đó học sinh khó khăn của trường cũng được nhận quà trong dịp Tết nguyên đán. Tổng số tiền huy động trong các chương trình và tặng quà cho 247 lượt học sinh trong trường và học sinh  ngoài trường trị giá 44,2 triệu đồng.
          - Các hoạt động của nhà trường đều có sự chung tay và tham gia của cộng đồng: Các buổi học ngoài trời, giao lưu, các chương trình, lao động vệ sinh, trang trí trường lớp đề có sự tham gia của phụ huynh các lớp, nhiều phụ huynh tham gia các hoạt động của nhà trường.
          - Cha mẹ học sinh còn tham gia chia sẻ kinh nghiệm nuôi dạy con, suy nghĩ, mong muốn của họ về nhà trường, về thầy cô qua cuốn sổ ghi chép với nhà trường, qua trao đổi chia sẻ... 
          4. Kết quả
          - Năm học 2014-2015, giáo viên nhà trường thực sự thay đổi phương pháp đó là dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Kết quả: 20 GV dạy giỏi cấp Trường, 9 giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố, duy trì 04 các bộ giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh.; 8 giáo viên đều đạt SKKN cấp thành phố, nhiều sáng kiến được Phòng Giáo dục đánh giá cao (đạt 80- 90/100điểm), 1 giải nhì cấp Tỉnh về cuộc thi Elearning;  02 Cán bộ quản lý nhà trường được công nhận sáng kiến kinh nghiệm cấp Tỉnh.
          - Học sinh nhanh nhẹn, tự tin, tích cực chủ động tham gia các hoạt động giáo dục. Một số kỹ năng của học sinh được phát triển: kỹ năng nói, kỹ năng điều hành, kỹ năng lãnh đạo... Học sinh có thói quen tự học và tự làm việc với tài liệu, biết hợp tác và chia sẻ, giúp đỡ bạn.  Năm học 2014-2015, nhà trường có 09 giải các kỳ thi qua mạng, thi năng khiếu các cấp và có 02 học sinh tham gia Thi cấp quốc gia Giải Toán bằng Tiếng Anh qua mạng. Nhà trường được Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục Đào tạo thành phố Lào Cai đánh giá là một trong những trường có nhiều giải pháp kiểm soát tốt việc dạy học theo VNEN và triển khai nhân rộng VNEN có hiệu quả.
          - Được sự "vào cuộc" và đồng tình ủng hộ của cha mẹ học sinh vì họ thấy được sự tiến bộ của con em mình qua việc thể hiện các kỹ năng sống ở nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội và hiệu quả của mô hình trường học VNEN.
          - Quang cảnh trường lớp sáng - xanh - sạch - đẹp- thân thiện.
          - Là địa chỉ tham quan, học hỏi kinh nghiệm của một số trường miền xuôi.
          Trên đây là báo cáo việc thực hiện nhân rộng mô hình VNEN của trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, thành phố Lào Cai.
 
 
Nơi nhận:
- Phòng GD&ĐT;
- Lưu: VT.
   HIỆU TRƯỞNG
 
 
 
Trần Thị Liên
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguồn: nguyenbangoc.elc.vn
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 1
Tháng 02 : 59
Năm 2020 : 94